dathoc.com Bài giảng Giáo án đề thi tài liệu miễn phí Download, chia sẽ tài nguyên dạy và học miễn phí !
Tất cả Giáo án Bài giảng Bài viết Tài liệu

 Kỷ niệm 38 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:

Nhà báo chiến trường kể về giai đoạn ác liệt tại Thành cổ Quảng Trị

(GDVN) - Ông là nhà báo Đậu Ngọc Đản - một nhà báo từng qua nhiều chiến trường, từng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử và những hy sinh, mất mát.

Một buổi chiều cuối tháng 4, chúng tôi gặp ông trong góc quán cà phê trên đường Hai Bà Trưng, Hà Nội. Lần đầu tiên tôi gặp ông và cũng lần đầu tiên tôi được trực tiếp nghe ông kể về những ngày tháng ông làm phóng viên chiến trường của Tổng cục Chính trị và của Thông tấn xã ViệtNam. Ông là nhà báo Đậu Ngọc Đản - một nhà báo từng qua nhiều chiến trường, từng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử và những hy sinh, mất mát.

Ông luôn tự hào rằng trong cuộc đời 40 năm làm báo mình: “So với các lớp đàn anh, các bậc cha chú thời kỳ chống Pháp và giai đoạn đầu chống Mỹ, công việc của mình có nhiều thuận lơi hơn. "Tôi bước vào nghề làm báo trong giai đoạn là quân đội ta đang trải qua thời kỳ quyết chiến và quyết thắng. Đó là giai đoạn có những bước đột phá để tạo nên ngày thống nhất đất nước. Cả thế hệ làm báo chúng tôi đều trải qua giai đoạn như thế nhưng so với các bạn đồng nghiệp, tôi có măy mắn hơn là đi qua quãng đường để phản ánh cuộc chiến đấu hết sức dũng cảm của quân đội và nhân dân ta vào những thời điểm lịch sử”.

Đã 38 mùa xuân, đất nước hoàn toàn thống nhất. Cứ mỗi dạo gần đến ngày 30/4, “Bài ca Thống nhất” lại vang lên đầy da diết, xen lẫn niềm hân hoan là những tưởng nhớ đến các chiến sỹ đã nằm lại nơi đất lạnh chiến trường. Hy sinh là điều không thể tránh khỏi trong bất kỳ cuộc chiến nào…

Khi nghe lời đề nghị của tôi muốn nghe ông kể về những hy sinh trước giờ độc lập, ông hơi lặng người đi rồi gật đầu đồng ý. Ông châm điếu thuốc lá và rít hơi dài rồi chậm rãi kể lại.

“Nhắc lại chiến tranh là không chỉ nhắc lại về truyền thống của quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu mà chắc chắn còn phải nhắc đến những hy sinh mất mát mà các thế hệ sau phải tri ân, ghi nhớ. Đó là những sự hy sinh cao cả của bao nhiêu con người mà họ không được hưởng phẩn giá trị đích thực sau ngày chiến thắng. 

Các thế hệ làm báo khác nhau đều chứng kiến sự hy sinh đó – những sự hy sinh của cả một thế hệ mà đến nay đã trở thành những tượng đài bất tử và Tổ quốc ghi công họ nhất là ở Quảng Trị, ở Trường Sơn cũng như ở các địa danh khác ở miền Nam. Khắp đất nước Việt Nam, ở đâu cũng có biểu tượng chiến thắng, ở đâu cũng có  nghĩa trang liệt sỹ. 

Chính những người đã nằm xuống tạo nên những tượng đài chiến thắng nhưng từng con người một đã phải chịu thiệt thòi, những người thân của họ đã phải chịu thiệt thòi mà không có gì có thể bù đắp nổi. Cuộc đời họ chỉ có vì đất nước. Cả đất nước này được hưởng thành quả của chiến thắng nhưng bản thân họ không được hưởng thắng lợi ấy”.

“Cho đến nay chúng ta vẫn chưa đền đáp được sự hy sinh đó. Có những sự hy sinh luôn khắc khoải, luôn hiển hiện trong tôi”, nhà báo Ngọc Đản tâm sự.  

Câu chuyện từ một bức ảnh

Nhà báo Ngọc Đản bắt đầu kể: “Tôi còn nhớ, bác Lê Văn Lâm là trưởng ban tổ chức cán bộ của Thông tấn xã Việt Nam có người con trai tên là Lê Văn Ninh. Khi vào Quảng Trị, tôi gặp anh ở mặt trận Ái Tử (cửa ngõ từ phía Bắc vào Thành cổ Quảng Trị) đang chiến đấu ở đó. Tôi đã chụp lại hình ảnh của anh Lê Văn Ninh mà không biết bố mẹ của anh là ai mà chỉ biết quê của anh. 

Anh Lê Văn Ninh vốn là dân (Đại học) Bách Khoa, cuối năm 1971 nhập ngũ và sau mấy tháng tập luyện thì đã có mặt ở mặt trận này. Sau khi chụp ảnh xong, tôi viết bài và gửi về Thông tấn xã Việt Nam và đăng hình ảnh của anh ấy lên. 

Khi tôi được biệt phái sang Thông tấn xã Việt Nam làm phóng viên chiến tranh của Thông tấn xã, bác Lê Văn Lâm nhận ra người trong bức ảnh kia là con trai mình. Sau năm 1972, tôi về và bác ấy nhắc lại bức ảnh đó. 

Trong tôi lúc đó chỉ có một niềm tự hào nhưng tôi đâu có ngờ rằng đó lại liên quan đến một nỗi đau, một sự mất mát rất lớn của gia đình bác Lê Văn Lâm. Sau đó, bác Lâm mới nói với tôi rằng, sau lần tôi gặp anh Lê Văn Ninh đó thì anh ấy đã hy sinh và bây giờ đã 40 năm, gia đình vẫn chưa tìm thấy hài cốt anh.

Bác Lê Văn Lâm đã kể cho tôi nghe về con người và cuộc đời của anh Lê Văn Ninh. Tôi đã biết được thêm về một người chiến sỹ trong số rất nhiều chiến sỹ của chúng ta đã hy sinh tại Thành cổ Quảng Trị. Đó chính là bức ảnh kỷ niệm cuối cùng của gia đình bác Lê Văn Lâm về người con trai duy nhất của mình.

Chuyện như đùa: Trung đội trưởng không biết mặt lính của mình

Sự hy sinh của anh Lê Văn Ninh cũng giống như sự hy sinh của biết bao thanh niên khác – những người lên đường ra trận với “lòng phơi phới dậy tương lai”. Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã từng viết về sự hy sinh tại Thành cổ Quảng Trị: “Nếu tất cả trở về đông đủ/ Sư đoàn ta sẽ thành mấy sư đoàn”. Số lượng những người còn lại ít hơn nhiều so với số người đã hy sinh.

 Ngày 19/6/1972, quân lực Việt Nam Cộng hoà đã dùng súng phun lửa phun vào từng căn hầm, từng chiến hào của chúng ta. Tại thành cổ Quảng Trị, có cả câu chuyện Trung đội trưởng không biết mặt chiến sỹ mình như thế nào bởi cứ lớp người này ngã xuống thì lớp chiến sỹ khác xông lên thế chỗ.

Tôi đã từng chứng kiến một sự việc như thế. Đó là một anh Trung đội trưởng khi mới được điều động vào thành cổ Quảng Trị bấm đèn pin vào danh sách mà đọc tên các chiến sỹ của mình và phân công họ đi về các hướng để chốt giữ mà không biết mặt chiến sỹ của mình như thế nào. Trong cuộc chiến ác liệt như thế thì hy sinh là điều không thể tránh khỏi và sau lần phân công nhiệm vụ đó, nhiều người đã không còn…”.

Tuệ Minh
(Đỗ Cảnh sưu tầm)

 Sự kiện 30 tháng 4, 1975

Một phần của Chiến tranh Việt Nam

Phiên bản xe tăng T-54A (cùng loại với xe 843 gốc) [1]]]
được sơn số hiệu 843, là 1 trong 2 chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập.

Thời gian: 30-4-1975

Địa điểm: Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa

Kết quả: Chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ

  • 120 nghìn người di tản ra nước ngoài, trong tháng 4/1975[2].

Chính quyền Cách mạng Lâm thời tiếp quản toàn bộ miền Nam Việt Nam, tạo cơ sở cho thống nhất 2 miền năm 1976

 

Tham chiến

 

Quân đội Nhân dân Việt Nam

Quân lực Việt Nam Cộng hoà

 

Quân giải phóng miền Nam

 

 

 

Chỉ huy

 

Văn Tiến Dũng

Nguyễn Văn Toàn                                                      

 

Trần Văn Trà

Lâm Văn Phát

 

Lê Đức Anh

 

 

Đinh Đức Thiện

 

 

Vũ Lăng

 

 

Hoàng Cầm

 

 

Nguyễn Hữu An

 

 

Lê Trọng Tấn

 

 

 

Lực lươmgl

 

270.000 quân chủ lực, 180.000 dân công du kích hỗ trợ[3]

 

~30.000

 

Tổn thất

 

Không rõ

 

Phần lớn bị bắt hoặc đầu hàng. Một số di tản

Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, thường được gọi là 30 tháng Tư, ngày giải phóng miền Nam, ngày Thống Nhất (tên gọi tại Việt Nam) hay ngày miền Nam sụp đổ (báo chí Tây phương gọi là Sài Gòn thất thủ, Fall of Saigon), Ngày Quốc Hận hay "Ngày Quốc Nhục"[4][5]Tháng Tư Đen[6][7][8][9] trong cộng đồng người Việt tị nạn, là sự kiện chấm dứt Chiến tranh Việt Nam khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh cùng nội các bị bắt tại chỗ và phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện các lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòaMặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày này là kết quả trực tiếp của Chiến dịch Mùa Xuân năm 1975 và là một mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên của cố Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh. Sự kiện 30 tháng 4 diễn ra sau khi tất cả công dân và lính Mỹ cùng với hàng ngàn người Việt ở miền Nam Việt Nam di tản khỏi Sài Gòn. Vì nhiều người tị nạn đã di tản và chính phủ Việt Nam Xã hội chủ nghĩa đã áp dụng luật mới góp phần làm cho dân số thành phố giảm xuống sau đó.

Các sự kiện dẫn đến 30 tháng 4

Sau Hiệp định Paris tinh thần và khả năng của quân đội Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng nhất là sau khi Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate, vào tháng 8 năm 1974.

Sự cắt giảm hỗ trợ từ Hoa Kỳ

Sau khi người Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa đã cắt giảm nhiều:

  • Tài khóa 1973: 2,1 tỷ USD
  • Tài khóa 1974: 1,4 tỷ USD
  • Tài khóa 1975: 0,7 tỷ USD

Theo lời kể của ông Nguyễn Tiến Hưng, Tổng trưởng kế hoạch và phát triển Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ, thì Giáo sư Warren Nutter là cựu Phụ tá Tổng trưởng quốc phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình "Việt Nam hóa". Khi dự điểm tâm với Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vào sáng ngày 23 tháng Tám năm 1974 tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu bày tỏ sự lo ngại về viện trợ:

Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi Tokyo

Giáo sư Nutter cũng rất bối rối và giải thích hành động của Quốc hội:

Quốc hội Hoa Kỳ đôi khi hành động vô trách nhiệm như vậy… Cái Trung Tâm Tài Nguyên Đông Dương (Indochina Resource Center, 1 trung tâm của những người phản chiến) đang hết sức tìm cách tiêu diệt quý quốc

Sau này, trong tập hồi ký Mùa Xuân Đại Thắng, Đại tướng Văn Tiến Dũng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã viết về động cơ thúc đẩy Việt Nam Dân chủ Cộng hòaMặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công ở miền Nam là do Mỹ đã giảm viện trợ làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn không thể thực hiện theo như ý muốn. Đó là vì "hỏa lực đã sút giảm gần 60% vì thiếu bom, đạn; khả năng di động cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe cộ, và nhiên liệu."[10]

Diễn biến chính trị và quân sự

Bài chi tiết: Chiến dịch Mùa Xuân năm 1975

Tổng thống Gerald Ford không thuyết phục được Quốc hội Hoa Kỳ chi thêm ngân sách cho chiến trường Việt Nam. Theo Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, đầu năm 1975, sau hai năm ký hiệp định đình chiến, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã huy động gần như toàn bộ[11] lực lượng chủ lực 270 ngàn người của mình[12], mở cuộc tấn công lớn trên toàn miền Nam Việt Nam, bắt đầu là ở Tây Nguyên. Buôn Ma Thuột thất thủ gây chấn động hệ thống phòng thủ của quân đội Việt Nam Cộng hòa và là khởi đầu của những chiến dịch nối tiếp nhau.

Ngày 23 tháng 3, Tổng thống Thiệu nhận được thư của Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Nhà Trắng

Ngày 22 tháng Ba, 1975

Thưa Tổng thống,

Cuộc tấn công hiện nay của Bắc Việt Nam chống lại quý quốc thật vô cùng xáo trộn khiến riêng cá nhân tôi lo âu. Theo quan điểm của tôi, thì cuộc tấn công của Hà Nội tượng trưng cho một sự việc không kém gì sự huỷ bỏ Hiệp định Paris bằng vũ lực.

Biến chuyển này mang theo không hậu quả nghiêm trọng nhất cho cả hai dân tộc chúng ta. Đối với Ngài và nhân dân Ngài thì dây là lúc hy sinh lớn nhất, nó sẽ quyết đinh chính số phận quí quốc. Tôi tin tưởng rằng dưới quyền lãnh đạo của Ngài, quân lực và nhân dân VNCH sẽ tiếp tục công cuộc bảo vệ kiên trì chống lại vụ xâm lược mới này. Tôi cũng tin tưởng chắc chắn rằng nếu có được sự yểm trợ bổ túc từ bên ngoài vào thì quý quốc sẽ thắng thế trong cuộc đấu tranh giành quyền tự quyết của mình.

Riêng đối với Hoa kỳ thì vấn đề cũng không kém phần cấp bách.

Khi hành động như thế này, Hà Nội đang tìm cách huỷ diệt tất cả những gì mà chúng ta đã chiến đấu để thành đạt, với phí tổn vô cùng to lớn, suốt mười năm qua

Sự quyết tâm của Hoa kỳ để yểm trợ một người bạn đang bị các lực lượng (Bắc Việt) với vũ khí hùng mạnh tấn công, hoàn toàn vi phạm một thoả ước quốc tế (đã được ký kết) long trọng, là một điều hết sức cần thiết.

Riêng tôi, tôi quyết tâm rằng Hoa kỳ sẽ đứng vững sau lưng Việt Nam cộng hoà trong giờ phút tối quan trọng này. Với mục đích tôn trọng những bổn phận của Hoa kỳ trong tình thế này, tôi đang theo dõi những biến chuyển với chủ tâm cao độ nhất và đang khẩn cấp tham khảo ý kiến các cố vấn của tôi về những hành động mà tình thế có thể đòi hỏi và pháp luật cho phép. Về việc cung ứng viện trợ quân sự đầy đủ cho quân đội Ngài, xin Ngài yên tâm là tôi sẽ cố tâm nỗ lực để thoả mãn những nhu cầu vật chất của Ngài trên chiến trường.

Trước khi chấm dứt, tôi xin được nhắc lại một lần nữa lòng cảm phục liên tục của tôi đối với quyết tâm của Ngài và đối với sức bền bỉ và sự anh dũng của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa.

Kính thư,

(kí) Gerald R. Ford[13]

Dù là nói tới quyết tâm ủng hộ nhưng người thảo bức thư đã khôn khéo gài vào: "(tôi) đang khẩn cấp tham khảo ý kiến các cố vấn về những hành động mà tình thế có thể đòi hỏi và pháp luật cho phép"[13].

 

 

 

Ngày 23 tháng 3, Huế rơi vào tay Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong khi ở Đà Nẵng, hàng ngàn dân thường và binh lính tìm cách chạy thoát bằng đường biển khỏi thành phố đang bị bao vây và nã pháo. Trong 4 sư đoàn bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, 4 liên đoàn Biệt động quân, lữ đoàn thiết giáp, sư đoàn không quân, tổng cộng 12 vạn quân và hàng ngàn nhân viên quân sự và địa phương quân, chỉ có 16.000 rút được.[14] Trong số gần 2 triệu dân thường dồn lại tại Đà Nẵng từ cuối tháng 3, chỉ có hơn 50.000 sơ tán được bằng đường thủy.[15] Còn lại là 70.000 binh sĩ VNCH bị bắt làm tù binh.[16] Ngoài ra 33 máy bay phản lực A-37 còn nguyên vẹn cùng gần 60 máy bay khác tại căn cứ không quân Phù Cát cũng bị bỏ lại.[17] Trong cuộc sụp đổ của Đà Nẵng, không có một trận chiến nào. Khi Quân Giải phóng tiến vào thành phố, không mấy binh sĩ VNCH đóng quanh thành phố chống cự.[18] Các trung tâm phòng thủ còn lại dọc theo bờ biển cũng nhanh chóng tan vỡ dây chuyền: Quảng Ngãi ngày 24 tháng 3; Quy NhơnNha Trang ngày 1 tháng 4; và cảng Cam Ranh ngày 3 tháng 4.[19]

Trong nửa đầu tháng 4, với Quân đoàn 2 của quân Giải phóng từ phía bắc tiến vào và quân đoàn 3 từ Tây Nguyên đổ xuống, các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa lần lượt rơi vào tay Quân Giải phóng.

Ngày 9 tháng 4, Quân đoàn 4 Quân giải phóng định đánh chiếm huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai trên hành tiến - tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng của Sài Gòn - nhưng Sư đoàn 18 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã kháng cự ác liệt có tổ chức để giữ vững được thị xã. Đây là trận đánh dài ngày có tổ chức cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trận Xuân Lộc đã gây thương vong rất lớn cho cả hai bên.

Ngày 17 tháng 4, Thượng viện Hoa Kỳ từ chối khoản viện trợ khẩn cấp trị giá 722 triệu Mỹ kim mà chính phủ Gerald Ford đề nghị. Tuy không ai tin rằng viện trợ Mỹ có thể xoay chuyển tình thế, một số chuyên viên như Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger hy vọng rằng ngân khoản đó có thể giúp Việt Nam Cộng Hòa lấy lại được đủ vị thế về quân sự để thuyết phục Bắc Việt đàm phán. Hai ngày sau phán quyết này của Thượng viện, giám đốc CIA William Colby nói với tổng thống Ford: "Nam Việt Nam đang đối mặt với thất bại hoàn toàn và nhanh chóng". Các chuyến bay di tản do CIA tổ chức đã bắt đầu đưa các cộng tác viên người Việt rời Việt Nam, và Sứ quán Mỹ đã bắt đầu đốt tài liệu mật từ trước đó.[20] Ngày 20 tháng 4 các thủ tục pháp luật được đơn giản hóa cho việc sơ tán người Việt bắt đầu có hiệu lực. Việc sơ tán này được thực hiện tại sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, do tướng Homer Smith chỉ huy. Các máy bay C-130C-140 liên tục lên xuống vào ban ngày; công việc giấy tờ được tiếp tục suốt đêm. Tướng Smith đã phải dùng đến toàn bộ trung đội Thủy quân lục chiến số 43 của Mỹ để giữ trật tự tại Tân Sơn Nhất.

Ngày 20 tháng 4 quân phòng thủ bỏ Xuân Lộc rút lui. Ngày Xuân Lộc thất thủ, không còn gì để cứu vãn nữa. Việc bỏ Xuân Lộc khiến Sài Gòn gần như bỏ ngỏ, không còn phòng thủ từ xa nữa; Quân giải phóng áp sát thành phố ở các tuyến ngoại vi. Cùng ngày 20 tháng 4, Đại sứ Mỹ Martin đến phủ Tổng thống thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu từ chức, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã liên tục tuyên bố sẽ không đàm phán với tổng thống Thiệu.

Tối ngày 21 tháng 4, Nguyễn Văn Thiệu đọc một bài diễn văn từ chức dài trước Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, buộc tội Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa. Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay nhưng phía Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam không chấp nhận nói chuyện với ông. Thời điểm 21 tháng 4 khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức có ý nghĩa quyết định. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói rằng "chìa khóa là ngày 21 tháng 4, khi Thiệu từ chức. Khi đó tôi biết rằng chúng tôi phải tấn công ngay lập tức, cướp lấy thời cơ, tất cả chúng tôi cũng đồng ý như vậy."[21] Đêm hôm đó, tại sở chỉ huy tiền phương tại Lộc Ninh, cách Sài Gòn 75 dặm, tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy các cánh quân Giải phóng tiến về thành phố, ra lệnh bắt đầu cuộc tổng tiến công.

Để đảm bảo áp đảo chắc thắng, Quân Giải Phóng đưa thêm cả Quân đoàn 1 (hay còn gọi là Binh đoàn Quyết thắng) bằng tàu biển và hàng không vào chiến trường cho trận cuối cùng có tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Lực lượng tiến công Sài Gòn tương đương 20 sư đoàn, tổ chức thành 5 quân đoàn.

Trong nỗ lực cuối cùng, tướng Nguyễn Cao Kỳ phát biểu trước khoảng 6 nghìn người Thiên Chúa giáo hữu khuynh vào xế trưa ngày 25-4 về chuyện phòng thủ Sài Gòn, rằng những kẻ chạy theo Mỹ là hèn nhát. Phụ nữ và trẻ con sẽ được gửi đi đảo Phú Quốc, dân Sài Gòn sẽ chiến đấu. Nguyễn Cao Kỳ còn tuyên bố Sài Gòn sẽ trở thành một Leningrad thứ hai, nơi đã cầm cự 900 ngày trong vòng vây hãm. Việc phân phối vũ khí sẽ làm ngay, mọi người nên ở lại Sài Gòn. Nhưng tất cả chỉ có vậy. Sau đó Nguyễn Cao Kỳ bỏ vào sân bay Tân Sơn Nhất để sắp xếp cho các máy bay di tản sang Thái Lan và đồng thời cũng bí mật ra lệnh cho một trực thăng đến đón mình.

Tổng thống Mỹ Gerald Ford nghe cố Nelson A. Rockefeller báo cáo về kế hoạch di tản khỏi Sài Gòn.

Lúc 17 giờ ngày 26 tháng 4, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng với 5 quân đoàn ở 5 hướng tấn công: hướng Bắc với Quân đoàn 1, hướng Tây Bắc với Quân đoàn 3, hướng Tây và Tây Nam với Đoàn 232, hướng Đông với Quân đoàn 4 và hướng đông nam với Quân đoàn 2.

Ngày 27 tháng 4, Sài Gòn chịu 3 loạt hỏa tiễn của Quân giải phóng, lần đầu tiên trong hơn 40 tháng[22] làm nhiều người chết và bị thương và nhà cửa đổ nát. Hai lính Mỹ cũng thiệt mạng, là những lính thiệt mạng cuối cùng của Mỹ trong cuộc chiến[23]

Tại mặt phía Nam của Sài Gòn, ngay từ ngày 28 tháng 4, 1975, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ Ðô của chính quyền Sài Gòn không còn quân trừ bị để phòng thủ. Họ buộc phải rút 1 liên đoàn Biệt Ðộng Quân đang hành quân về quận lỵ Cần Đước và đặt dưới quyền điều động của Bộ tư lệnh Biệt Khu Thủ Ðô. Liên tỉnh lộ nối liền Chợ LớnCần Đước cũng bị cắt nhiều đoạn nên các lực lượng VNCH không thể phá vỡ được các chốt chận của Quân giải phóng tại cầu Nhị Thiên Đường vốn đã bị chiếm từ rạng sáng ngày 29 tháng 4, 1975.

Các đơn vị Nhảy Dù phòng ngự tại phòng tuyến khu vực từ ngã tư Quân Vận (gần Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung) đến cầu Tham Lương Bà Quẹo, khu Bình Thới-Ngã ba Bà Quẹo, khu Bảy Hiền-Lăng Cha Cả đã cố gắng ngăn chận đối phương. Một chiến đoàn thuộc Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù tại vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy đã dàn quân và từ 8 giờ sáng đến 10 giờ sáng, chiến đoàn này đã bắn cháy 6 chiến xa và đánh bật đối phương ra khỏi trận địa.

Phi công Hoa Kỳ đưa trẻ em tị nạn rời khỏi Việt Nam

Tuy nhiên các nỗ lực kháng cự lẻ tẻ này không làm chậm quân Giải phóng được bao nhiêu. Đến cuối ngày 28 tháng 4, tất cả các tuyến phòng thủ đã bị chọc thủng ở mọi hướng, quân Giải phóng có thể đi ngay vào thành phố. Các lực lượng chính trị thứ ba dàn xếp để đưa Đại tướng Dương Văn Minh lên làm tổng thống trong ngày 28 tháng 4 năm 1975. Ngay khi nhậm chức để tiến hành đàm phán Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu người Mỹ ra đi.

Trực thăng trên Hàng không mẫu hạm USS Midway tháng 4-1975 bị đẩy xuống biển để dành thêm chỗ cho người tỵ nạn

4 giờ sáng ngày 29/4 tức 16 giờ theo giờ Washington, hỏa tiễn và đạn pháo Quân giải phóng đã nã tới tấp xuống Phi trường Tân Sơn Nhứt, phá hủy nhiều phi cơ trên mặt đất, vô hiệu hóa phi trường này và gây cho số người Việt đang tụ tập ở đấy sợ hãi trốn chạy, một sự hỗn loạn thực sự.[24]

Tổng thống Ford triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia họp khẩn cấp lúc 19h 30, ông đã yêu cầu Đại sứ Graham Martin phải di tản ngay những người Mỹ còn lại và cả những người Việt Nam càng nhiều càng tốt.

Một số sĩ quan người Việt đã tự bắn vào đầu để tự vẫn, như Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, người thì vì danh dự bị hoen ố trước thất bại, người thì vì lo sợ bị trả thù hoặc bị cầm tù và bị đối phương đày đọa.[25]

Sài Gòn và phần còn lại của Việt Nam Cộng Hòa, hàng triệu người dân Việt Nam bắt đầu tự đặt cho mình 1 câu hỏi mấu chốt: họ có thể sống dưới chế độ mới hay tốt hơn là tự tìm cách trốn chạy bằng đường biển.[25]

Trong các ngày 28, 29 tháng 4 từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội số 7 ngoài khơi Thủy quân lục chiến Mỹ dùng trực thăng di tản người nước ngoài và một số người Việt đã từng cộng tác chặt chẽ với họ, trong đó có chiến dịch Babylift. Cuộc di tản đã diễn ra trong hỗn loạn vì rất nhiều người muốn ra đi nhưng không thể đáp ứng hết được. Các điểm đỗ của trực thăng náo loạn. Lính Thuỷ quân lục chiến Mỹ đã phải cố gắng mới duy trì được trật tự, họ dùng sức mạnh thô bạo gạt phăng các bạn đồng minh cũ đang trong cơn hoạn nạn[cần dẫn nguồn]. Người Mỹ đã phải bỏ lại nhiều người bạn lâu năm của mình vì số lượng phương tiện có hạn. Hình ảnh di tản đã in đậm trong trí óc nhiều người Mỹ và Việt như một kỷ niệm rất buồn. Đại sứ Graham Martin là một trong những người Mỹ cuối cùng ra đi. Trong số 120.000 người Việt và 20.000 người Mỹ được di tản trong đợt này, không có một người nào bị thiệt mạng do hoạt động quân sự của quân Giải phóng[2].

Quân giải phóng dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để cho người Mỹ di tản hết mới vào. Theo lời tướng Trần Văn Trà, họ đã đợi vì mục đích chính là để giải phóng Sài Gòn chứ không phải để giết người Mỹ và sỉ nhục họ. Còn theo hồi kí của tướng Hoàng Cầm, cánh quân của Quân đoàn 4 mà ông chỉ huy gặp rất nhiều kháng cự trên đường tiến về Sài Gòn và chỉ đánh được đến nơi vừa kịp sáng ngày 30 tháng 4.

Theo hồi ký các tướng tá của quân đội Sài Gòn như Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Chánh Thi, và cựu dân biểu Lý Quý Chung, thì sáng ngày 28/4, tướng tình báo Pháp Francois Vanussème đã tới gặp Dương Văn Minh và đề nghị kêu gọi Trung Quốc đem quân can thiệp để cứu quân đội Sài Gòn đang trong cơn nguy kịch. Một nhân viên ngoại giao Trung Quốc đề nghị quân đội Sài Gòn hãy cố thủ, án ngữ Vùng 4 Chiến thuật, hứa hẹn Trung Quốc sẽ đem quân đánh vào biên giới miền Bắc Việt Nam để giải vây. Tướng Minh vốn đã được Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam thông qua em trai là Dương Thanh Nhựt (bí danh Mười Ty, đại tá QĐNDVN) và gia đình đã thuyết phục từ trước, đã từ khước và nói: "Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”[26]

Theo tác giả Trần Viết Đại Hưng, một cựu sĩ quan VNCH, thì Nguyễn Cao Kỳ còn tính làm một cuộc đảo chánh chính phủ Dương Văn Minh mới thành lập để nắm quyền và ra lệnh cố thử. Người Mỹ biết chuyện đó và giám đốc CIA ở Sài Gòn lúc đó là Polgar đã cảnh cáo Kỳ là không được manh động. Nguyễn Cao Kỳ nghe vậy thì dẹp bỏ kế hoạch vì ông ta hiểu rằng: nếu chống lại sách lược của Mỹ thì sẽ mang họa vào thân.

Ngày 30 tháng 4

Phạm Xuân Thệ (phải) đưa Dương Văn MinhVũ Văn Mẫu đến đài phát thanh

 Bản phục chế của bản thảo lời đầu hàng và lời chấp nhận đầu hàng do Phạm Xuân Thệ và Bùi Văn Tùng soạn

8 giờ sáng 30 tháng 4 Tổng thống Dương Văn Minh và Bộ tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa hạ lệnh đơn phương ngừng chiến sẵn sàng đón quân đối phương vào Sài Gòn để bàn giao chính quyền.Theo phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lệnh này không còn tác dụng do phần lớn quân lực Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã tan rã, phần nhiều ra hàng hoặc vứt bỏ vũ khí về với gia đình. Do đó khi Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn hầu hết chỉ gặp những ổ kháng cự nhỏ lẻ, thiếu tổ chức

9 giờ sáng cùng ngày, đúng 1 tiếng đồng hồ sau khi chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ rời nóc tòa Đại Sứ quán, tướng Trần Văn Trà lệnh cho quân Giải Phóng tiến vào Sài Gòn từ năm hướng. Họ đã tiến nhanh mà không gặp kháng cự có tổ chức.

10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4, xe tăng mang số hiệu 843 húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập và bị kẹt tại đó. Bùi Quang Thận - Đại đội trưởng, chỉ huy xe 843 - nhảy xuống xe, cầm cờ chạy bộ vào. Xe tăng 390 dưới quyền chỉ huy của Vũ Đăng Toàn húc tung cánh cửa chính của dinh.

11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân đội Nhân dân Việt Nam Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên.

Cùng lúc này, đại úy trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng lực lượng đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2

(Đỗ Cảnh - Sưu tầm)